Vai trò của chứng cứ trong thực thi công lý

Điều tra viên cần phải thận trọng trong việc tìm chứng cứ - Ảnh: internet
Chứng cứ đóng vai trò trung tâm trong các vụ án. Chứng cứ quyết định tính chất phạm tội của nghi can.

Công lý (justice) là một khái niệm gắn liền với xã hội. Đây là một khái niệm rất rộng, liên kết với nhiều khái niệm phức tạp như luân lý, đạo đức, tôn giáo, luật pháp, công bằng, công dân…

Là khái niệm gắn liền với xã hội, công lý cũng gắn với các tính chất công khai, minh bạch, trung thực, công bình… Nghĩa là công lý không thuộc về một cá nhân hay một nhóm người, mà phải thuộc về toàn xã hội. Việc bảo vệ và thực thi công lý có thể được giao cho những nhà chuyên môn được bổ nhiệm chính danh, nhưng việc đó phải được công khai trong sự hiểu biết và chấp nhận của xã hội.

Chứng cứ (evidence) là bất kỳ vật liệu vật chất hoặc dữ kiện có thể trình ra trước phiên tòa nhắm xác minh sự thực của một sự việc đang được điều tra. Về triết học, khái niệm về chứng cứ rất phức tạp. Bài này đề cập chứng cứ dưới dạng đơn giản trong thực tiễn. Chứng cứ được chia 3 loại: chứng cứ nói (do nhân chứng trình bày), chứng cứ tài liệu do tòa án điều tra, và chứng cứ đồ vật, còn gọi chứng cứ thật, thí dụ con dao, khẩu súng gây án, quần áo nạn nhân, vết máu, dấu vân tay…

Chứng cứ đóng vai trò trung tâm trong các vụ án. Chứng cứ quyết định tính chất phạm tội của nghi can chứ không phải ngược lại.

Từ chứng cứ trình ra cho tới lúc tòa lấy quyết định, còn phải qua các bước tiến hành tố tụng để nghe và cân nhắc chứng cứ. Điều này được quy định bởi quy định tố tụng (procedural regulations) liên quan nhằm xác định một chứng cứ có liên quan tới vụ án không, có thể chấp nhận hoặc cần bị loại bỏ hay không.

Chứng cứ đã được trưng ra phải đáp ứng hai tiêu chí chứng cứ rất quan trọng, đó là tiêu chí khách quan và tiêu chí đúng luật. Hai tiêu chí đó quy định chứng cứ phải là những tài liệu, sự kiện có thật, phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án đã xảy ra, không bị xuyên tạc, bóp méo theo ý chí chủ quan của con người. Chứng cứ không thể là những gì được suy đoán, tưởng tượng ra. Và chứng cứ phải được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của luật tố tụng hình sự.

Đây thường là khâu mà sự tranh cãi rất quyết liệt, các bên tranh cãi không phụ thuộc vào nhau. Vị chánh án chỉ là người lắng nghe cả hai bên, không thiên vị bên nào. Vị trí chánh án đòi hỏi một sự độc lập, và do đó bất kỳ một sự hoàn cảnh nào có thể ảnh hưởng tới sự độc lập, tới công tâm của chánh án cần phải triệt để loại bỏ!

Từ những kiến thức căn bản trên, chúng ta có thể đặt rất nhiều câu hỏi về vụ án Cầu Voi… Ít nhất, về chứng cứ, người ta sẽ thắc mắc:

1) Trong vụ án giết người tại Bưu điện Cầu Voi, có chứng cứ thật nào được trưng ra không?

2) Các loại chứng cứ được trưng ra có được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự không?

3) Các chứng cứ được trưng ra, nếu có, có đáp ứng đủ điều kiện chứng cứ khách quan không? Nghĩa là có dấu hiệu phi tang chứng cứ thật không? Có dấu hiệu sửa đổi lời khai của nghi can và/hay của nhân chứng không?

4) Có loại bỏ những điều kiện ảnh hưởng sự phán xử độc lập và công tâm của chánh án trong phiên tòa giám đốc thẩm không?

Bài viết này cho rằng trong ba câu hỏi (1), (2), (3) trên, chỉ cần có một vấn đề sơ sót hay sai sót là không đủ thẩm quyền kết luận nghi can phạm tội. Câu hỏi số (4) có nhiều người nêu rồi, bài viết xin nhấn mạnh rằng bất kỳ điều kiện nào ảnh hưởng sự phán xử độc lập và công tâm của chánh án trong phiên tòa đều cần bị loại bỏ. Với một chứng cứ được chứng minh gian dối, một chánh án này có thể bác bỏ, và một chánh án khác có thể nhắm mắt làm ngơ.

Đây là việc không thể coi nhẹ, nhất là trước sinh mạng một con người, và cũng rất quan trọng, trước tính nghiêm minh và cách hành xử đúng nguyên tắc của một phiên tòa!

Lê Học Lãnh Vân


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận3

  • Phạm Ngọc HữuReply

    21-5-2020 05:33:25

    Năm 1995 tôi nhận nhiệm vụ xác minh một đơn tố cáo tại một doanh nghiệp (xin không nêu tên) nhập gbiaf làm các loại hộp bao hói hàng xuất khẩu. Theo đơn tố cáo doanh nghiệp này nhập bìa Kralf (thuế suất nhập khẩu năm 1995 là 30%) nhưng lại khai báo là nhập bìa thường (thuế suất 10%) để trốn thuế. Vì doanh nghiệp nhập khẩu nhiều lần nên nếu tố cáo này là chính xác thì số tiền truy thu sẽ rất lớn.Tôi đã yêu cầu Trung tâm giám định chất lượng 3 tại TP Hồ Chí Minh. Quá trình lấy mẫu xét nghiệm được thực hiện đúng quy trình (trực tiếp, tại chỗ). Kế quả giám định cho thấy giấy nhập khẩu có hàm lượng Kralf 20,07%, theo danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu hàng hóa thì tiên thương phẩm của giấy này là Kralf line boad .(hàm lượng kralf không qúa 22%) nếu không có chữ line (tráng/phủ 1 lớp) tức là Kralf Boad là loại nấu theo phương pháp Sufit hàm lượng Kralf từ 85% trở lên. Điểm mấu chốt ở đây là Kralf line boad <22% kralf) thuế suất 10% còn Kralf Boad (>85% kralf) thuế suất 30%. Khi đọc kết luận thanh tra tại chỗ bà Tổng Giám đốc dopanh nghiệp nhập khẩu òa khóc ôm lấy tôi cám ơn. Còn tôi phải chạy mau ra sân bay để kịp giờ về Hà nội. Không kiểm tra bằng chứng trực tiếp thì tôi không trả lại công bằng cho doanh nghiệp đươc.

  • Võ Tá LuânReply

    20-5-2020 04:22:08

    Bài này thể hiện đúng trọng chứng hơn trọng cung là ở đây rồi !

    • Long ƯngReply

      25-5-2020 02:04:23

      @ Võ Tá Luân: nhiều người giống bạn cứ nói "Trọng chứng hơn trọng cung" mà chả hiểu đang nói cái gì. Làm gì có sự phân biệt, đối lập "chứng" với "cung"! "Cung", tức lời khai (của bị hại, bị cáo, nhân chứng v.v...) cũng là "chứng" luôn nhé. Luật Hình sự quy định "Không được phép sử dụng lời khai nhận tội của bị cáo làm chứng cứ kết tội duy nhất", tức là lời khai nhận của bị cáo cũng là chứng cứ, nhưng cần có thêm các chứng cứ khác nữa, và nếu các chứng cứ phù hợp với nhau thì mới có cơ sở kết tội bị cáo. Trong vụ Hồ Duy Hải, bị cáo nhận tội và không hề kêu oan, kể cả khi gặp đoàn công tác của UB Tư pháp Quốc hội (vốn muốn cứu Hải), khác hẳn với các vụ án oan (Nguyễn Thanh Chấn, Hàn Đức Long, vụ Vườn điều v.v...) các bị cáo kêu oan từ đầu đến cuối. Như thế chứng cứ quan trọng nhất - lời khai nhận của bị cáo - đã có. Ngoài ra còn rất nhiều chứng cứ khác nữa mà người ngoài cuộc như chúng ta và cả tác giả không biết đến, do không được nghiên cứu chồng hồ sơ dày cả mét. Khi đó một vài sai sót về tố tụng có thể bỏ đi mà không làm thay đổi bản chất vụ án, do đã có các chứng cứ khác làm cơ sở. Vì vậy HĐXX các phiên sơ thẩm, phúc thẩm và Giám đốc thẩm hẳn có cái lý của họ khi ra phán quyết như thế. Chúng ta là người ngoài cuộc, không có chuyên môn sâu, lại không được nghiên cứu hồ sơ, thì không nên phán xử thế này thế nọ, dạy khôn người khác.

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.