Cần quan tâm hơn nữa đời sống tâm linh của dân chúng

Chùa Trà Phương (Thiên Phúc tự), một di sản văn hóa quốc gia ở Hải Phòng, nơi được đông đảo phật tử khắp vùng Bắc Bộ đến cúng bái, hành lễ - Ảnh: N.Thông
Nếu sự lộn xộn mê muội trong nhận thức mà không được xử lý thì các biện pháp tăng cường quản lý lễ hội của Nhà nước cũng chỉ giải quyết được phần ngọn, chỉ ngăn cấm được người dân bớt lộn xộn khi tham gia lễ hội chứ không phải là giải pháp cơ bản, lâu dài.

Những năm gần đây, cứ mỗi mùa lễ hội, lại có bao nhiêu chuyện bức xúc. Nhiều người cho rằng mê tín dị đoan có vẻ càng ngày càng phát triển. Những cảnh bạo lực, phi nhân tính ngay chốn cửa Phật đền Thánh, trong lễ hội, xảy ra nhan nhản.

Tín ngưỡng bị lợi dụng, buông lỏng

Tại sao trong khi đi lễ hội chùa Hương, cầu mong Phật từ bi phù hộ độ trì, người ta lại có thể đánh trọng thương một cụ già sơ ý giẫm phải chân mình? Tại sao người ta lại mê muội đến mức dùng cả gậy gộc đánh nhau để tranh một chút lộc ở trong lễ cúng? Rồi nạn cướp lộc, tranh giành lễ vật rất phản cảm, bạo lực. Rồi chuyện đua nhau dâng cúng những đồ lễ kỷ lục kệch cỡm, như đưa nguyên cả con bò, con trâu thui lên bàn thờ. Rồi chuyện các chùa cúng dâng sao giải hạn nhằm thu tiền trục lợi. Những vụ buôn thần bán thánh, bói toán, cúng thuê lừa đảo… Nhiều không kể xiết.

Chỉ một con rắn bị ‘ngáo” trên ngôi mộ (hiện tượng chẳng lạ lùng gì) mà gần đây dân ở tỉnh Quảng Bình như lên cơn sốt. Người ta kéo đến ùn ùn vái lạy con rắn, và tiền “công đức” vào đó chỉ vài ngày đã lên đến hàng trăm triệu đồng.

Nhiều nhà khoa học, nhà tu hành đã lên tiếng giải thích, phê phán những chuyện đó. Nói chung các ý kiến giải thích thường cho là do nhận thức hạn chế, sai lầm của một bộ phận nhân dân và công tác tổ chức lễ hội còn chưa tốt. Nhưng năm này qua năm khác, tình trạng tệ nạn ấy vẫn không ngừng tăng lên. Điều đó chứng tỏ rằng những cách giải thích phê phán như vậy hình như không lọt được tai dân chúng. Và việc thể hiện niềm tin vào thánh thần của dân ta có vẻ ngày càng mất kiểm soát, mê tín dị đoan ngày càng phát triển. Vậy phải hiểu, phải ứng xử thế nào cho đúng?

Phải nói rằng, trong nhân dân ta, đồng bào có đạo (giáo dân) thì đức tin vào Thiên Chúa, vào thánh thần và đời sống tâm linh được chăm sóc bởi các chức sắc tôn giáo. Việc hành lễ của người có đạo luôn có trật tự theo quy định của tổ chức tôn giáo, dường như ít xảy ra những chuyện lộn xộn đáng phải phê phán.

Phải thừa nhận một thực tế: Sự lộn xộn của lễ hội như nói trên chỉ diễn ra trong đồng bào không có đạo (thường cũng gọi là bên lương, để phân biệt với bên giáo - chỉ đồng bào có đạo).

Vấn đề ở chỗ, người bên lương tuy không theo tôn giáo nào nhưng vẫn có đời sống tâm linh phong phú. Có người tin có thần linh, có người lại không tin; người thì tin nhiều, người thì tin ít. Vì thế việc cúng lễ thần linh ở mỗi người cũng không như nhau. Trong đời sống tâm linh, người bên lương không có tổ chức như bên giáo nên việc hành lễ (thờ, cúng…) không có chức việc chăm lo, hướng dẫn thực hiện cho nên người (kể cả thầy cúng “chuyên nghiệp”) thì cúng lễ thế này, người thì cúng lễ thế khác, không có chuẩn mực gì cả. Do như vậy nên nhiều chuyện lộn xộn rất dễ xảy ra.

Bàn về thần linh là điều cực khó. Đức Khổng Tử từng nói, đại ý rằng nói về người đã khó, chẳng nhẽ nói về thần linh lại không khó, vì thế ông hầu như không phát ngôn về thần linh. Nhà triệt học Tuân Tử thì bảo: Trồng cấy cho nhiều, tiêu dùng cho điều độ thì Trời không làm cho người đói được. Ông cho rằng người có việc của người, thần có việc của thần, không liên quan. Ở Tây phương, ngay từ thời cổ, thần linh là vấn đề triết học, được nghiên cứu, giảng dạy rất nghiêm túc trong hệ thống nhà trường. Epiquya (341-270 trước công nguyên) có tác phẩm Về thần linh, Thomas D’Aquin (1225-1275) có những tác phẩm như Vấn đề các phép mầu nhiệm, Về các thiên thần, Về quỷ dữ… Voltaire (1694-1778) có tác phẩm Về linh hồn, David Hume (1711-1776) có Về sự bất tử của linh hồn, Bruno (1548-1600) có sách Về ma quỷ… Ở nhiều nước phát triển, môn thần học (là môn học giúp con người hiểu về Chúa Trời – theo niềm tin tôn giáo) rất phổ biến, nhà nước luôn coi trọng việc chăm lo đời sống tâm linh của người dân.

Có những đấng thần linh phổ biến trong đời sống tâm linh ở nhiều nước như Ngọc Hoàng, Chúa Trời… Cũng có nhiều vị thần chỉ có ở những quốc gia, những địa phương, những nhóm người nhất định. Người Hồi giáo thì tin vào Đức Allah, người Kitô giáo tin vào Chúa Jesus, người Phật tử thì tin vào Phật tổ (Đức Thích Ca Mâu Ni và các bồ tát, kim cương, la hán…), người theo Nho giáo thì thờ Khổng Tử, người theo Lão giáo thờ Thái Thượng Lão Quân. Có những nước, người ta thờ thần bò, thần lợn, thần sao (thái bạch, thái ất, tinh quan, thanh long, bạch hổ, chu tước, huyền vũ…), thần sông, thần suối, thần núi, thần đất… Người Nhật Bản theo đa thần giáo, thờ rất nhiều đấng thần linh khác nhau, vật gì cũng có thể có thần, nhiều không đếm xuể. Ở nước ta thì còn có các vị thần mà các nước khác không có như Tản Viên Sơn Thần (còn gọi là Thánh Tản, Sơn Tinh), Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), Thánh Chử Đồng Tử, Thánh Mẫu Liễu Hạnh… Rồi Bà Chúa Kho, rồi Ông Hoàng Mười, rồi các vị thành hoàng, thần hoàng, thổ công, thổ địa, thần long mạch, táo công… Rồi Đức Thánh Trần, Đức Ông, Thánh Cả… cũng nhiều không kể xiết.

Nhận thức về tín ngưỡng, tâm linh "có vấn đề"

Nhân mùa lễ hội đang diễn ra và kéo dài, khi dư luận lắm chuyện ồn ào, chúng tôi xin trao đổi về việc thờ thần linh ở Việt Nam.

Trước đây, ở thời kỳ bao cấp, do nhận thức ấu trĩ theo lối duy vật giản đơn, vô thần cứng nhắc nên người ta đã phá bỏ hàng loạt đình chùa miếu mạo; chê bai đả kích, quy cho tất cả mọi hoạt động thờ cúng tâm linh là mê tín dị đoan. Hầu hết các lễ hội truyền thống của dân tộc bị bỏ bê xao lãng, thậm chí bị cấm. Đó là dạng thái cực đoan, mà thực tế đã chứng minh là rất sai lầm.

Sang thời kỳ kinh tế thị trường (từ giữa thập niên 1980 tới nay), dần dần các hoạt động tâm linh, các lễ hội được tôn trọng và phục hồi trở lại, và đến giờ thì phát triển đến mức lạm phát, hỗn độn. Các hoạt động tâm linh rất hỗn loạn, người dân không thể phân biệt phải trái hay dở thế nào. Từ chỗ gần như phá không thương tiếc đền chùa đình miếu trước đây, bây giờ người ta lại xây nhiều những ngôi đền chùa to vật vã, kỷ lục. Trước đã cực đoan cấm đoán, giờ lại cực đoan theo kiểu ngược, một dạng quá trớn. Tháng giêng tháng hai cả nước đi lễ hội, từ quan đến dân đua nhau cúng bái, tốn kém thời gian bạc không biết bao nhiêu mà kể. Tiêu cực nảy sinh ngày càng nhiều, nhà nước lại phải ra tay ngăn chặn.

Có thần linh hay không có thần linh? Người cho là không có, người cho là có. Vậy ta nên ứng xử thế nào?

Do tư duy cực đoan nên những người có niềm tin tâm linh khác nhau thường rất khó đồng ý với nhau. Người hữu thần (tin là có thần linh) và người vô thần (không tin là có thần linh) thường rất khó thuyết phục được nhau. Vì vậy, khi các chuyên gia, các nhà tu hành lên tivi nói đôi điều phải trái về chuyện cúng lễ, thường không phân biệt là nói cho người vô thần nghe hay nói cho người hữu thần, vì vậy các diễn giả có giải thích giảng giải bao nhiêu thì nhận thức trong dân chúng cũng chẳng bao giờ thống nhất.

Nước ta có nhiều truyền thuyết về thần linh, cũng có nhiều sách cúng bái, bói toán nhắc đến thần linh, song nêu ra một cách công khai thì ít người nghiên cứu nghiêm túc chuyện này. Cúng chưa thấy có luận án tiến sĩ nào về đề tài thần linh cả. Đầu thế kỷ 20 có cụ Phan Kế Bính đưa ra những nghiên cứu về thần linh, tôn giáo khá hệ thống, rất đáng quan tâm.

Nói chung, thần linh ở Việt Nam được phân chia thành một số đấng khác nhau. Được thờ cúng phổ biến là thiên thần và nhân thần. Thiên thần là thần linh, theo tập quán truyền thống cho rằng các vị thần ấy là do Trời (thiên) lập ra (ví dụ như Ngọc hoàng, Nam tào, Bắc đẩu, thanh long, bạch hổ, táo công, thổ công, hà bá...). Nhân thần là các vị thần vốn là người thật, có hồ sơ cá nhân cụ thể, có đạo đức, tư tưởng, công lao lớn với dân, với nước mà được phong thần phong thánh, có vị được sắc phong thần của vua chúa, có vị được nhân dân tự suy tôn. Trong các vị nhân thần có người là thần linh của cả nước, chẳng hạn Đức Thánh Trần - Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, cũng có người là thần của từng địa phương (như ông Hoàng Mười, các vị thần hoàng ở các làng xã…). Cũng có những anh hùng, danh nhân khác tuy không được phong thần phong thánh nhưng cũng được phụng thờ như thần ở nơi đền miếu, chẳng hạn Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão, v.v.. Ngoài ra lại cũng có cả những quỷ thần, tà thần chuyên phá phách hay làm điều không tốt cho con người… và để được yên ổn và ủng hộ, người ta cũng thờ cúng những thần này. Có nơi lập miếu thờ ông ăn mày, thờ người chết đuối, thậm chí thờ cả con vật như thờ chó, thờ ngựa, thờ cá ông… Phật giáo ở ta khá phát triển, bản thân Phật tổ là người có thật, ngài cũng không coi mình là thần song người ta vẫn thờ cúng và cầu xin chư Phật đủ thứ phúc lộc thọ như cầu xin các vị thần linh khác. Có nơi thờ tất cả các đấng phật, tiên, thần thánh vào cùng một chỗ, thường gọi là Tam giáo đồng đường. Có nhiều gia đình thì thờ cả Phật cùng với gia tiên, thổ công, táo công, thần tài…

Như vậy đủ biết “hệ thống” thần linh ở ta vô cùng phức tạp.

Theo quan niệm phổ biến thì “Phật từ bi, Thánh một li cũng chấp” (tương truyền đức Khổng Tử thấy trải chiếu không vuông vắn thì không ngồi, thịt thái miếng không vuông vắn thì không ăn…). Nghĩa là thờ Phật thế nào cũng được, tùy theo điều kiện, không câu nệ, miễn là lòng thành thì thôi, nếu có sai sót thì mình sai mình chịu, Phật mở lòng từ bi, không chấp không phạt. Nhưng thờ thánh thần thì khác, ngoài lòng thành thì còn phải đúng nghi thức thì Thánh mới hài lòng và phù hộ cho; đấy là chưa kể lỡ sai mà mạo phạm, bị Thánh quở phạt còn rước vạ vào mình.

Nhưng thế nào là đúng? Có bao giờ thánh thần hiện giữa thanh thiên mà chỉ cho người trần mắt thịt nhìn thấy, nghe thấy, hiểu rõ mà làm theo đâu. Vì vậy, mới có các thầy cao nhân đắc đạo, “linh thông” được với thánh thần, viết ra sách vở, dạy cho dân chúng biết cách hành lễ để mà thờ cúng thánh thần. Và để yên tâm, người ta thường nhờ các thầy cúng bái cho mình. Có những đám cúng rất to, người ta nhờ cả đoàn thầy cúng một lần, cúng cả ngày, có khi vài ba ngày, chi phí đến cả trăm triệu. Có thầy thì cúng hộ không lấy tiền, cúng một lúc là xong, gia chủ có lòng đưa bao nhiêu cũng được. Một vị lãnh đạo cũ của tôi kể chuyện khi về nhà mới, cúng nhập trạch, hỏi thầy giá cả tiền nong thế nào, thầy bảo “tính tiền theo số… mét vuông nhà thôi”. Tóm lại là rất đa dạng, thầy nào cũng cho mình đúng.

Nói chung người ta khi đã tin theo thần thánh này thì thường không để ý gì đến thần thánh khác. Người ta tin đến mức nào đó thì cho là mình có đức tin, nhưng người khác có thể lại cho đó là mê tín, hay cuồng tín, tùy theo nhận thức mỗi người. Điều này dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột không thể điều hòa. Và lúc này, rất cần đến vai trò quản lý, phán xử của nhà nước.

Ai chăm lo đời sống tâm linh cho người dân?

Từ trước đến nay chúng ta nói nhiều về việc nhà nước chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, song một cách thẳng thắn thì về đời sống tâm linh vẫn bị né tránh, cho nó là phức tạp, bí hiểm, “nhạy cảm” nên ngại nói tới. Tuy nhiên thực tế cho thấy, hầu như đa số con người đều có hoạt động thờ cúng, lễ bái…, không nhiều thì ít. Và dù chưa có điều tra xã hội học nào xem bao nhiêu phần trăm dân số tin là có thánh thần, bao nhiêu không tin, nhưng trong đời sống dễ thấy số người dân (cả quan chức nhà nước) tin rằng có thánh thần, có đấng siêu nhiên cũng khá đông.

Nguyên nhân thì ta sẽ bàn sau nhưng có thể nói: Tín ngưỡng - tin vào thần linh, là quyền tự do của con người, và vì còn nhiều người tin rằng có thánh thần, cho nên nhu cầu được giúp đỡ để họ tiếp cận với thần linh, được thần linh che chở, giúp đỡ, phù hộ… là nhu cầu thiết thực của họ, cần được tôn trọng.

Tuy nhiên, nhu cầu chính đáng và khách quan này dường như không được bộ máy quản lý xã hội quan tâm đúng mức. Sự giáo dục tâm linh, đặc biệt là sự giáo dục nhận thức và ứng xử (hành lễ, thờ cúng…) với thần linh từ gia đình, nhà trường, xã hội còn bị để trống, thậm chí không dám đặt ra một cách công khai. Rõ ràng đó là một khoảng trống về mặt giáo dục. Hậu quả là dù cho đời sống vật chất, trình độ học vấn và điều kiện tiếp cận thông tin, văn hóa bây giờ khá hơn xưa nhiều nhưng nhận thức tâm linh của con người, kể cả dân chúng và cán bộ, lại rất thấp kém, lộn xộn, thậm chí mê muội hơn.

Sự lộn xộn mê muội trong nhận thức tâm linh là nguyên nhân của sự lộn xộn trong những hoạt động tại các lễ hội nhiều năm qua. Không những thế, nó còn gián tiếp tác động tạo nên lộn xộn trong đời sống văn hóa xã hội, bởi xét cho cùng xã hội là do hoạt động của các cá nhân với những suy nghĩ khác nhau tạo nên. Nếu sự lộn xộn mê muội trong nhận thức mà không được xử lý thì các biện pháp tăng cường quản lý lễ hội của Nhà nước cũng chỉ giải quyết được phần ngọn, chỉ ngăn cấm người dân bớt lộn xộn khi tham gia lễ hội song không phải là giải pháp cơ bản, lâu dài, và bất cứ lúc nào sự lộn xộn đó có điều kiện lại bùng phát theo tâm lý đám đông, rất khó kiểm soát.

Trước đây ở nước ta có cả một hệ thống thiết chế thần linh với sắc phong của vua chúa (được coi là thay mặt cho Trời - đấng tối cao) ban hành, có hệ thống đẳng cấp danh vị hẳn hoi, vì vậy mà có các quy định bài bản về việc cúng tế, luật pháp không cho vi phạm, nên hoạt động tâm linh ít bị rối loạn. Lâu nay hệ thống thiết chế này bị phá bỏ, thất lạc. Việc hành lễ bây giờ chỉ truyền miệng và lưu truyền không công khai trong giới “thầy cúng” với một số sách cúng lễ rời rạc, tản mạn, thật giả cũ mới không ai kiểm định, mỗi thầy một sách, người có nhu cầu tâm linh cứ vái tứ phương, chẳng ai biết đâu là chuẩn. Vì vậy hành vi tín ngưỡng càng thêm rối loạn. Giải quyết vấn đề này là việc không thể né tránh.

Thực tế đó gợi nên suy nghĩ nên chăng nhà nước cần xây dựng, ban bố một thiết chế gồm hệ thống danh vị, đẳng cấp, danh vị thần linh và chế độ tế lễ đối với từng đấng thần linh (ít nhất là với các vị nhân thần gắn với lịch sử dân tộc (như Đức Thánh Trần, Đức Ông, Bà Chúa Kho…) và các vị thần chỉ có ở Việt Nam như Thánh Gióng, Thánh Tản, Mẫu Liễu Hạnh…). Ngoài hệ thống này, ai tự ý lập ra việc thờ cúng các “tà thần” khác sẽ bị coi là mê tín dị đoan, là phạm pháp, sẽ bị cấm hoạt động. Việc giáo dục tâm linh cũng nên là nội dung chính thức trong nhà trường ở bậc phổ thông (có thể là cấp học cuối cùng), làm cơ sở chung cho việc giáo dục tâm linh ở gia đình và xã hội.

Trên quan điểm duy vật lịch sử mà nói, việc mê tín dị đoan và cúng lễ cuồng loạn xảy ra có nguồn gốc sâu xa là do nguyên nhân kinh tế (và chính trị - lợi ích kinh tế). Khi cuộc sống của con người càng phụ thuộc vào yếu tố ngẫu nhiên thì người ta càng mê tín nhiều hơn. Trong khi niềm tin tâm linh vẫn còn phổ biến trong đời sống thì nhà nước không thể né tránh nhiệm vụ của mình là xây dựng thiết chế luật pháp đáp ứng nhu cầu chính đáng của dân và đảm bảo trật tự xã hội.

Nếu cứ né tránh vấn đề này sẽ dẫn đến tình trạng: Con người ta (nhất là cán bộ nhà nước) ngoài miệng thì nói không tin thần linh, nhưng thực ra lại rất mê tín, cuồng loạn trong hoạt động tâm linh (tất nhiên dẫn đến các hậu quả xấu cho xã hội như trong thời gian qua) vì không có được nhận thức đúng đắn đối với vấn đề này.

Sỹ Văn


Loading...

BÌNH LUẬN BÀI VIẾT


Bình luận0

Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến.

Bạn đã gửi ý kiến cho bài viết này.